Lịch sử về chiếc đèn Măng sông Coleman huyền thoại

25 mins read

Đèn măng sông đọc theo phiên âm tiếng Pháp là manchon, đèn măng sông Coleman được khai sinh bởi ông William Coffin Coleman sinh năm 1870. Gia đình ông định cư tại một thị trấn nhỏ ở Kansas, Hoa Kỳ. Cha của Coleman qua đời khi ông mới 11 tuổi, khiến cuộc sống gia đình ông thêm khó khăn. Khi còn là học sinh ông đã phụ mẹ đi bán hàng rong khắp nơi.

Chuyện kể rằng, trong một chuyến đi bán hàng định mệnh, khi Coleman đang đi vào buổi tối trên con đường của thị trấn, anh ta nhận thấy ánh sáng trắng dữ dội của một ngọn đèn trong cửa sổ hiệu thuốc. Chiếc đèn chạy bằng xăng sáng đến nỗi Coleman dù có thị lực kém cũng có thể đọc được nó một cách dễ dàng. Vì hầu hết mọi người thời đó đều sử dụng đèn gas nhấp nháy, đèn dầu ám khói, hoặc bóng đèn dây tóc carbon mờ, Coleman ngay lập tức coi đèn là một bước tiến quan trọng…

Ông Coleman đang chỉnh lại một mẫu đèn măng sông

Coleman lúc này đang theo học trường luật, ông quyết định nghỉ học và bắt đầu đã sắp xếp bán loại đèn mới này cho Công ty Irby-Gilliland ở Memphis, và đi đến Kingfisher, Oklahoma, để bắt đầu công việc kinh doanh mới của mình. Thật không may, ông ấy chỉ bán được hai chiếc đèn vào cuối tuần đầu tiên.

Việc không bán được hàng khiến ông mất tinh thần, nhưng ông sớm phát hiện ra rằng một người bán hàng khác trước đó đã bán hàng chục chiếc đèn cho những người bán hàng trong thị trấn.

Vì không thể làm sạch đèn nên chúng bị bám cặn carbon làm tắt đèn sau một thời gian ngắn. Người bán hàng đã rời đi hơi nhanh, và những người bán hàng cảm thấy như mình bị lừa.

Không thể bán những chiếc đèn của mình, Coleman nảy ra ý tưởng cho thuê chúng với giá 1 đô la mỗi tuần và tự mình phục vụ chúng. Nếu đèn hỏng, khách hàng không phải trả tiền. Doanh thu tăng vọt. Để duy trì tính cạnh tranh, hầu như tất cả các chủ cửa hàng của thị trấn đã mua dịch vụ chiếu sáng của ông.

Việc kinh doanh phát triển mạnh mẽ khi Coleman tái đầu tư lợi nhuận và phân nhánh sang các cộng đồng lân cận. Không lâu sau đó, ông thành lập Công ty Hydro-Carbon Light.

Đến năm 1909, Coleman đã phát minh ra đèn để bàn với bình xăng được thiết kế như một đài phun nước nhỏ có đế bằng. Vỏ thủy tinh sau đó đã được thêm vào để bảo vệ tim đèn trong quá trình sử dụng ngoài trời. Năm 1914, công ty đã phát triển đèn lồng măng sông Coleman để sử dụng trong thời tiết khắc nghiệt.

Mẫu đèn Coleman qua các giai đoạn từ 1914 -1950

Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, phe đồng minh yêu cầu lúa mì và ngô của Hoa Kỳ để bổ sung nguồn cung cấp lương thực cho họ. Nhận thấy nhu cầu về một loại đèn đáng tin cậy, sáng và di động cho những người nông dân thực hiện các nhiệm vụ cần thiết để hỗ trợ người dân châu Âu, chính phủ Mỹ tuyên bố đèn Coleman rất cần thiết cho nỗ lực hỗ trợ thời chiến và cung cấp cho Coleman cả tiền và vật liệu để sản xuất đèn. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, công ty đã sản xuất hơn một triệu chiếc đèn cho nông dân Mỹ.

Coleman đã phát triển ổn định trong những năm 1920. Mặc dù điện đã đến các thị trấn nhỏ trên khắp nước Mỹ, nhưng hầu hết các vùng nông thôn vẫn chưa có. Coleman do đó đã tìm thấy các thị trường lớn nhất của mình ở các vùng nông thôn, doanh số bán đèn và bếp xăng ngày càng tăng lên đáng kể. Công ty cũng đã mở văn phòng đại diện với một nhà máy sản xuất chính tại Toronto, Canada.

Việc đặt văn phòng tại Canada là một bước đi thông minh của Coleman, vì Khối thịnh vượng chung Anh đã ưu đãi về thuế quan đối với các sản phẩm được sản xuất tại các quốc gia thành viên. Vào cuối những năm 1920, danh tiếng của chiếc đèn lồng Coleman đã được thế giới khẳng định.

Đô đốc Byrd đã sử dụng chiếc đèn trong chuyến đi đến Nam Cực. Trên đảo Pitcairn, hậu duệ của những dị nhân người Anh từ Bounty và gia đình Tahitian của họ đã chiếu sáng những ngôi nhà của mình bằng đèn măng xông Coleman. Khi các đường băng được thắp sáng bằng đèn lồng Coleman trên dãy Andes, máy bay cũng có thể hạ cánh khẩn cấp.

Vào cuối những năm 1920, Coleman đã sản xuất một dòng bàn là (bàn ủi) bánh quế, máy pha cà phê, máy quạt, máy nướng bánh mì và bàn ủi điện. Tuy nhiên Coleman không hoàn toàn thành công trong việc phát triển các sản phẩm mới này.

Mẫu bàn ủi Coleman 4A đốt nóng bằng xăng

Coleman cũng đã thiết kế một máy pha cà phê cho các nhà hàng và khách sạn. Mặc dù nó pha cà phê tuyệt vời, nhưng chiếc máy này rất phức tạp trong việc xử lý và khó vệ sinh. Nó không thành công về mặt thương mại và công ty buộc phải dừng sản xuất.

Coleman không thể cạnh tranh với Westinghouse Electric Corporation và General Electric (GE), thế là họ đã rút các dòng sản phẩm này một cách nhanh chóng.

Coleman đã bị ảnh hưởng nặng nề khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào năm 1929. Trong hai năm sau đó, cuộc đại suy thoái ảnh hưởng nghiêm trọng đến hầu hết mọi ngành công nghiệp trong nước.

Nhu cầu mua sắm đối với các sản phẩm của Coleman suy giảm nhanh chóng chủ yếu là do tình trạng nghèo đói, mất việc làm, khiến nhiều người ở vùng nông thôn không có khả năng mua bất cứ thứ gì khác ngoài thực phẩm.

Như nhiều doanh nghiệp khác, Coleman không thể tránh khỏi sự lao dốc thảm hại. Rất may, do công ty có mối quan hệ tốt với một số ngân hàng, nên đã giúp Coleman vượt qua những năm tồi tệ nhất của cơn trầm cảm suy thái. Trong năm 1932, tổng doanh thu của công ty chỉ đạt 3 triệu đô la, lợi nhuận mang về chỉ là con số rất nhỏ, nhưng đó là một sự may mắn trong tình cảnh chung lúc bấy giờ.

Sau khi Franklin Delano Roosevelt đắc cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1932, ông đã khởi động một chương trình lớn về điện khí hóa nông thôn. Coleman lúc này phải đối mặt với sự sụt giảm thị trường bếp xăng và đèn chiếu sáng.

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu, Coleman được kêu gọi sản xuất các sản phẩm cho các ngành khác nhau của dịch vụ vũ trang Hoa Kỳ, bao gồm đạn pháo 20 mm cho Quân đội, đạn cho Hải quân và các bộ phận cho máy bay ném bom B-29 và B-17 cho lực lượng không quân.

Bếp bỏ túi Coleman stove 520 cho quân đội

Vào tháng 6 năm 1942, công ty được Quân đoàn trưởng quân đội thông báo với một yêu cầu khẩn cấp – Binh lính ngoài chiến trường cần một chiếc bếp nhỏ gọn có thể hoạt động ở môi trường có  nhiệt độ > 50 độ C và âm 50 độ, không lớn hơn một chai sữa và có thể đốt cháy bằng bất kỳ loại nhiên liệu nào, hơn nữa quân đội muốn có 5.000 bếp được giao ngay trong vòng hai tháng.

Coleman đã làm việc không ngừng nghỉ để thiết kế và sản xuất một chiếc bếp theo thông số kỹ thuật của Quân đội. Sau 2 tháng, lô hàng cũng đã xong và thậm chí tốt hơn những gì quân đội đã yêu cầu: Bếp có thể hoạt động ở nhiệt độ thấp hơn 60 độ C và nhiệt độ cao hơn 150 độ F, nó có thể đốt cháy với tất cả các loại nhiên liệu; nó chỉ nặng ba pound rưỡi (1.6kg) và nó nhỏ hơn một chai sữa (thời đó tầm 2 lít). Đơn đặt hàng đầu tiên cho 5.000 chiếc được chuyển đến các lực lượng của Hoa Kỳ tham gia vào cuộc xâm lược Bắc Phi trong tháng 11 năm 1942.

Người lính đang nấu ăn bằng bếp bỏ túi Coleman stove 520

Ernie Pyle, nhà báo nổi tiếng trong Chiến tranh thế giới thứ hai, người viết về trải nghiệm của những người bình thường trong chiến tranh, đã dành 15 bài báo cho chiếc bếp bỏ túi Coleman và coi đây là một trong hai món đồ quan trọng nhất của thiết bị phi bom (không giết người) trong chiến tranh, món còn lại là Xe Jeep.

Khi chiến tranh thế giới kết thúc, công việc kinh doanh của Coleman phát triển vượt bậc. Vì công ty đã sản xuất các sản phẩm cho các dịch vụ vũ trang trong chiến tranh, nên có một lượng lớn nhu cầu đối với các sản phẩm thông thường của công ty (vốn đã không được đưa ra thị trường). Doanh số bán hàng đã tăng lên 34 triệu đô la vào năm 1950, đương nhiên lợi nhuận cũng tăng lên đáng kể.

Trong những năm tiếp theo, có bốn sản phẩm thương hiệu Coleman bán chạy nhất gồm: Máy sưởi dầu chiếm 30% doanh số bán hàng; lò đốt gas 30%; bếp măng xông và đèn măng xông 40%.

Ngoài ra, còn các hợp đồng quân sự khác cung cấp cho công ty máy bay Boeing và  các bộ phận khác cho máy bay ném bom B-47, tầm khoảng 20% tổng doanh số.

Harry Huynh

SẢN PHẨM LIÊN QUAN BÀI VIẾT ĐANG BÁN TẠI SHOP ĐỒ XƯA CŨ

Harry Huynh

Những phát hiện cũ là niềm yêu thích của tôi. Those old, old finds are my favorites.

Leave a Reply

Bài viết mới nhất