Lịch sử phát triển của xẻng quân đội

14 mins read
Bức tranh mô tả cảnh dùng xẻng đánh xáp lá cà trong thế chiến 1

Xẻng quân đội xuất hiện từ thời của Quân đoàn La Mã Julius Caesar, các nhà văn cổ đại đã ghi lại việc sử dụng xẻng và các dụng cụ đào bới khác như những công cụ quan trọng của chiến tranh. Các chiến thuật bao vây trong suốt lịch sử đòi hỏi phải đào các công sự và thường là cố gắng đào xuyên qua bức tường.

Xẻng quân đội Mỹ M1912 trong Thế chiến thứ I

Trong thời hiện đại hơn, các chiến thuật bao vây trong Chiến tranh Napoléon đã sử dụng thuổng và cuốc làm công cụ phòng thủ để đào chiến hào về phía các bức tường của công sự đang bị bao vây, cho phép người dân và đạn dược đến đủ gần để bắn đại bác vào các bức tường rồi mở một cuộc đột nhập.

Thời đó xẻng quá dài và nặng để có thể trang bị riêng cho các binh sĩ, vì vậy chúng thường được chở trong các xe tiếp tế hoặc tàu hậu cần quân sự. Chỉ có quân tiên phong hoặc công binh thường mang theo thuổng hoặc xẻng như một phần của trang thiết bị cá nhân. Điều này thường xuyên dẫn đến tình huống bộ binh không tiếp cận được thiết bị phòng thủ khi cần thiết.

Hướng dẫn sử dụng xẻng bộ binh trong Thế chiến I

Chiếc xẻng bộ binh hiện đại đầu tiên được phát minh vào năm 1869 bởi sĩ quan người Đan Mạch tên là Mads Johan Buch Linnemann. Năm 1870, nó được cấp bằng sáng chế và cung cấp cho Quân đội Đan Mạch. Năm tiếp theo, nó được Quân đội Áo phê duyệt và sử dụng.

Vào năm 1870, Quân đội Hoa Kỳ đã giới thiệu lưỡi lê và xẻng dành cho các binh sĩ như một trang bị phòng vệ cá nhân. Khái niệm cung cấp cho mỗi người lính bộ binh một phương tiện đào hầm hoặc cho pháo binh là một học thuyết chiến thuật.

xẻng M-1956 và lưỡi lê M6

Linnemann thành lập một nhà máy ở Vienna (Áo) để sản xuất xẻng. Sau đó, nó được giới thiệu đến Đức, Pháp, Romania và Nga, mặc dù chỉ có Nga công nhận quyền sáng chế của Linnemann, và trả cho anh ta 30.000 rúp rồi đặt mua 60.000 lưỡi. Người Nga gọi nó là MPL-50 (thuổng bộ binh nhỏ dài 50 cm (20 in) và vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Chiếc xẻng nhỏ này cũng có thể được sử dụng như một cái rìu, một cái búa, một mái chèo, hoặc như một chiếc chảo để nấu thức ăn.

Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, xẻng bộ binh trở nên cực kỳ quan trọng với sự ra đời của chiến tranh chiến hào. Xẻng quân đội được thiết kế cho lính bộ binh với tay cầm thẳng, ngắn, tay cầm chữ T, tay cầm chữ D và các kiểu dáng khác.

Đánh cận chiến với xẻng

Xẻng bộ binh cũng được đưa vào sử dụng như một vũ khí cận chiến. Binh lính hai phe thường xuyên mài mép xẻng cho bén để làm vũ khí. Trong phạm vi gần của chiến hào, súng trường gắn lưỡi lê thường quá dài để sử dụng hiệu quả, thế là xẻng đã phát huy như là vũ khí phụ trợ cho các cuộc giao tranh tầm gần.

“Năm 1938, chiếc xẻng có thể gập lại Klappspaten (của Đức) xuất hiện, là tiền thân của tất cả các loại xẻng hiện đại ngày nay, bao gồm cả bản sao năm 1943 của Mỹ.” Thiết kế gấp ngày càng trở nên phổ biến, thường bao gồm một tay cầm cố định với một đầu xẻng gấp, và đôi khi kết hợp một thanh gắp vào thiết kế.

Xẻng quân đội Mỹ cán chữ T M1910 trong WWI

Giống như tất cả các công cụ phòng thủ cá nhân, chúng được thiết kế để dễ dàng mang theo như một phần trang bị tiêu chuẩn của lính bộ binh. Mẫu xẻng gấp năm 1937 của Anh đã thêm một vấu lưỡi lê vào tay cầm của công cụ, cho phép gắn lưỡi lê nhọn Lee-Enfield ở phần cuối và chuyển công cụ này thành một dụng cụ khai thác mìn.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, xẻng bộ binh đã được sử dụng trong các cuộc cận chiến giữa quân Đức và Liên Xô, đặc biệt là trong cuộc giao tranh tay đôi tàn bạo trong Trận Stalingrad.

 

Chiếc xẻng gấp công binh Mỹ thời nay với phần cán bằng nhôm

Ngày nay, chiếc xẻng bộ binh của Quân đội Hoa Kỳ đã phát triển từ chiếc xẻng gấp một lần có tay cầm thẳng thành một thiết kế gấp ba lần, với thiết kế tay cầm “D” được sửa đổi với toàn bộ cấu trúc bằng thép thành một loại nhựa và thép có trọng lượng nhẹ tương tự thiết kế ba lần được NATO chấp nhận làm công cụ phòng thủ tiêu chuẩn. Các biến thể gấp khác vẫn được chế tạo là xẻng cán nhôm với phần đầu bằng thép.

 

Harry Huynh

SẢN PHẨM LIÊN QUAN BÀI VIẾT

Harry Huynh

Những phát hiện cũ là niềm yêu thích của tôi. Those old, old finds are my favorites.

Leave a Reply

Bài viết mới nhất